Sắc lệnh số 14 về việc thành lập Nha Thể dục Trung ương (ngày 30-1-1946) đã đánh dấu sự ra đời chính thức của TDTT Cách mạng Việt Nam. Vào ngày 27-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sức khỏe và Thể dục” để kêu gọi toàn dân tập luyện với tư tưởng xuyên suốt là “Dân cường thì quốc thịnh”. Đây cũng là thời điểm quan trọng để ra đời Ngành TDTT Việt Nam.
Trải qua nhiều giai đoạn hình thành, phát triển, thể thao Việt Nam đã có những sự lớn mạnh đáng ghi nhận. Chuyên gia thể thao Nguyễn Hồng Minh (nguyên Vụ trưởng Vụ thể thao thành tích cao 1, Tổng cục TDTT Việt Nam) đã đánh giá: “Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử của thể thao Việt Nam đều có các kết quả được ghi nhận. Chúng ta phải thấy rằng từ trong khó khăn, Nhà nước luôn quan tâm tới sự phát triển thể chất, thể thao cho mọi người. Từ đó, việc đầu tư định hướng vào đào tạo huấn luyện thể thao thành tích cao cho thể thao Việt Nam cũng được thực hiện. Chúng ta từ chỗ hội nhập tham gia đấu trường quốc tế để học hỏi, tích lũy kinh nghiệm thì tới bây giờ, nhiều gương mặt thể thao Việt Nam đã có HCV tại SEA Games, ASIAD và Olympic cũng như tại các đấu trường châu Á, thế giới quan trọng”.
Từ khi trở lại hội nhập với thể thao quốc tế, thể thao Việt Nam đã có những gương mặt bắt đầu tham dự Olympic năm 1980 tại Moscow (Nga). Đó là giai đoạn khởi đầu của hành trình tham dự đấu trường quốc tế chính thức của thể thao Việt Nam. Tiếp đó, lần lượt các đoàn thể thao Việt Nam tham dự ASIAD, Olympic và SEA Games. Tấm HCĐ đầu tiên của xạ thủ Quốc Cường tại ASIAD năm 1982 ở Ấn Độ đã ghi dấu thành tích lịch sử quốc tế có giá trị của thể thao nước nhà tại châu Á. Và ở SEA Games 15 năm 1989 tại Malaysia, Đoàn thể thao Việt Nam lần đầu tiên giành 3 HCV ở đấu trường Đông Nam Á.
Những sự khởi đầu đó đã giúp thể thao Việt Nam tự tin, trưởng thành hơn và được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước từ đó phát triển vượt bậc về thành tích quốc tế.
Nếu thời kỳ đầu, chúng ta xác định hướng đi với chiến lược “đi tắt đón đầu” để tìm cơ hội tạo dựng thành tích nhưng để xây dựng hình ảnh thể thao Việt Nam sớm vươn tầm mạnh mẽ hơn. Từ những năm 2000 trở đi, thể thao Việt Nam đã bước vào thời điểm bứt phát, đầu tư trọng điểm để đạt thành tích nâng tầm giá trị.
Ở đó, Việt Nam là chủ nhà của nhiều Đại hội thể thao tầm cỡ khu vực như SEA Games năm 2003, năm 2022 hay Đại hội thể thao bãi biển châu Á năm 2016, Đại hội thể thao trong nhà châu Á năm 2009. Điều đó phản ánh, thể thao Việt Nam nhận được sự ủng hộ của người hâm mộ, có mục tiêu cụ thể để xác định khả năng, cơ hội làm chủ nhà đấu trường quan trọng, nâng cao vị thế của mình.
Trên bình diện thế giới, ở cấp độ Thế vận hội – Olympic, tấm HCB của võ sĩ taekwondo Trần Hiếu Ngân tại Olympic Sydney (Australia) 2000 là minh chứng khẳng định con người Việt Nam có khả năng đạt được trình độ cao. Tiếp đó, chúng ta đã có những tấm HCĐ cử tạ của Trần Lê Quốc Toàn (Olympic năm 2012) và đỉnh cao là 1 HCV, 1 HCB môn bắn súng của xạ thủ Hoàng Xuân Vinh tại Olympic năm 2016 ở Brazil. Thể thao Việt Nam đã đứng vào hàng ngũ các nền thể thao ở châu Á đã giành được HCV tại Olympic. Đây là điều không nhiều nền thể thao ở châu Á làm được.
Trong 80 năm đã được xây dựng và phát triển, thể thao Việt Nam cũng hướng tới tiếp cận sự phát triển của khoa học công nghệ ứng dụng và đào tạo, huấn luyện thể thao. Trên hết, mục tiêu vẫn là đầu tư trọng tâm vào con người. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ đang được Ngành TDTT Việt Nam thực hiện với nhiều kế hoạch triển khai Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (ngày 15-10-2024) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.